VN

🤔 Niềm vui, hạnh phúc, sức khỏe: 1. Bình an nội tâm. 2. Nhận được sự hài lòng từ việc giúp đỡ và trở thành chỗ dựa cho Người khác. Các mối quan hệ. 12R.tv❌✅ Tôi chúc Bạn, tôi Và những Người khác rằng vào cuối năm tới, mỗi Chúng ta đều có thể thốt lên rằng: “2022 là năm đẹp nhất trong cuộc đời tôi 🙂👍”. Marcin Ellwart

Hạnh phúc

một trạng thái cảm xúc vui sướng của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng

Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao. Ở con người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí.[1] Hạnh phúc gắn liền với quan niệm về niềm vui trong cuộc sống.[2]

Định nghĩa và cách sử dụng từ ‘Happy’là một chủ đề gây nhiều tranh cãi,[3][4][5][6] và có nhiều khác biệt trong các văn hóa khác nhau.[7][8]

Hạnh phúc là một chủ đề quan trọng trong triết lý Phật giáo.[9]

Wikipedia.org:

https://vi.m.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A1nh_ph%C3%BAc

Tháp nhu cầu của Maslow

Hệ thống nhu cầu của Maslow là một lý thuyết về tâm lý học được đề xuất bởi Abraham Maslow trong bài viết “A Theory of Human Motivation” năm 1943 trong Đánh giá Tâm lý học.[1]  Maslow sau đó đã mở rộng ý tưởng bao gồm những quan sát của ông về sự tò mò bẩm sinh của con người. Các lý thuyết của ông song song với nhiều lý thuyết khác về tâm lý học phát triển của con người, một số trong đó tập trung vào việc mô tả các giai đoạn tăng trưởng ở người. Sau đó, ông đã tạo ra một hệ thống phân loại phản ánh nhu cầu phổ biến của xã hội làm cơ sở và sau đó tiến tới những cảm xúc có được nhiều hơn.[2]  Hệ thống nhu cầu của Maslow được sử dụng để nghiên cứu cách con người thực sự tham gia vào động lực hành vi. Maslow đã sử dụng các thuật ngữ “sinh lý”, “an toàn”, “thuộc về tình yêu”, “nhu cầu xã hội” hoặc “lòng tự trọng” và “tự thể hiện” để mô tả mô hình mà động lực của con người thường di chuyển. Điều này có nghĩa là để động lực phát sinh ở giai đoạn tiếp theo, mỗi giai đoạn phải được thỏa mãn trong chính cá nhân họ. Ngoài ra, lý thuyết này là cơ sở chính để biết nỗ lực và động lực có tương quan như thế nào khi thảo luận về hành vi của con người. Mỗi cấp độ riêng lẻ này chứa một lượng cảm giác bên trong nhất định phải được đáp ứng để một cá nhân hoàn thành hệ thống phân cấp của họ. Mục tiêu trong lý thuyết của Maslow là đạt được cấp độ hoặc giai đoạn thứ năm: tự thể hiện.[3]

Lý thuyết của Maslow đã được thể hiện đầy đủ trong cuốn sách Motivation and Personality[4] năm 1954 của ông. Hệ thống phân cấp vẫn là một khuôn khổ rất phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đào tạo quản lý và hướng dẫn tâm lý học thứ cấp và cao hơn. Hệ thống phân cấp của Maslow đã được sửa đổi theo thời gian. Hệ thống phân cấp ban đầu nói rằng mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn và hoàn thành trước khi chuyển sang một mục tiêu cao hơn. Tuy nhiên, ngày nay các học giả thích nghĩ về các cấp độ này là liên tục chồng chéo lẫn nhau. Điều này có nghĩa là các cấp thấp hơn có thể được ưu tiên trở lại so với các cấp khác tại bất kỳ thời điểm nào.

Chi tiết nội dung tháp nhu cầu

Hệ thống nhu cầu của Maslow thường được mô tả theo hình dạng của một kim tự tháp với những nhu cầu cơ bản nhất, lớn nhất ở phía dưới và nhu cầu tự thể hiện và siêu việt ở phía trên. Nói cách khác, các nhu cầu cơ bản nhất của cá nhân phải được đáp ứng trước khi họ có động lực để đạt được nhu cầu cấp cao hơn.

Bốn cấp cơ bản nhất của kim tự tháp chứa những điều kiện mà Maslow gọi là “nhu cầu thiếu”: lòng tự trọng, tình bạn – tình yêu, an toàn và nhu cầu thể chất. Nếu những “nhu cầu thiếu hụt” này không được đáp ứng – ngoại trừ nhu cầu cơ bản nhất (sinh lý) – chúng có thể không có dấu hiệu thể hiện ra bên ngoài, nhưng cá nhân sẽ cảm thấy lo lắng và căng thẳng. Lý thuyết của Maslow cho thấy rằng mức độ nhu cầu cơ bản nhất phải được đáp ứng trước khi có khao khát về nhu cầu khác. Maslow cũng đặt ra thuật ngữ “siêu năng lực” để mô tả động lực của những người vượt quá phạm vi của các nhu cầu cơ bản và phấn đấu để cải thiện liên tục.

Bộ não con người là một hệ thống phức tạp và chứa các quá trình song song chạy cùng một lúc, do đó nhiều động lực khác nhau từ các cấp bậc khác nhau của Maslow có thể xảy ra cùng một lúc. Maslow đã nói rõ ràng về các cấp độ của tháp nhu cầu và sự hài lòng của họ bằng các thuật ngữ như “tương đối”, “chung” và “chủ yếu”.[9][10]

5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow:

  • Tầng thứ nhất: Các nhu cầu căn bản nhất thuộc về “thể lý” (physiological) – thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
  • Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) – cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
  • Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) – muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy.
  • Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) – cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng.
  • Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân cường độ cao (self – actualization) – muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt.

https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1p_nhu_c%E1%BA%A7u_c%E1%BB%A7a_Maslow

Sức khỏe

Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật (theo Tổ chức Y tế Thế giới)[1][2] Mặc dù định nghĩa này là chủ đề của nhiều cuộc tranh cãi, đặc biệt thiếu giá trị hoạt động và vì vấn đề được tạo ra bởi từ “toàn diện”, nên đây vẫn là vấn đề còn kéo dài.[3][4] Các định nghĩa khác cũng đã được đưa ra, trong số đó định nghĩa gần đây nhất là mối quan hệ giữa sức khỏe và sự thỏa mãn các nhu cầu cá nhân.[5][6] Các hệ thống phân loại như Phân loại quốc tế về Gia đình của WHO, bao gồm Hệ thống phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) và Phân loại quốc tế về Bệnh tật (ICD), thường được sử dụng để định nghĩa và để đo đạc các thành phần của sức khỏe. Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế – xã hội nào.

https://vi.m.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%A9c_kh%E1%BB%8Fe

Độc lập

Quyền tự trị và tự quyết với bản sắc và nhân vị riêng.

Độc lập là quyền bất khả xâm phạm của một đất nước, một quốc gia, một dân tộc bởi chính người dân sinh sống ở đó, có nghĩa là có chủ quyền tối cao. Độc lập còn có thể hiểu là “sự không phụ thuộc” từ cá nhân, tập thể, xã hội, quốc gia hay dân tộc nào vào cá nhân, tập thể, xã hội, quốc gia hay dân tộc khác.

Khái niệm “độc lập” có ý nghĩa tương phản với “nô dịch” (sự khuất phục). Khái niệm nô dịch chỉ một vùng lãnh thổ chịu sự điều khiển về chính trị và quân sự của một chính quyền ở bên ngoài. Khái niệm độc lập đôi khi cũng được dùng với nghĩa là bị điều khiển gián tiếp của một quốc gia khác có sức mạnh hơn.

Độc lập có thể là tình trạng ban đầu của một quốc gia mới xuất hiện, nhưng nó thường là một sự giải phóng từ sự thống trị. Độc lập cũng có thể nói theo nghĩa phủ định: là tình trạng không bị điều khiển, cai trị bởi một thế lực khác thông qua chủ nghĩa thực dân, sự bành trướng hay chủ nghĩa đế quốc. Độc lập có thể giành được nhờ việc chống lại thực dân hóa (phi thực dân hóa) chống lại sự chia cắt.

Mặc dù việc chống lại thực dân hóa (phi thực dân hóa) chống lại sự chia cắt thường trùng với việc giành độc lập, nhưng chúng không được lẫn lộn với cách mạng, khái niệm đề cập đến sự xung đột, bạo loạn lật đổ sự thống trị của chính quyền.

Độc lập sẽ giúp cho nhân dân sống trong ấm no hạnh phúc, không sợ hãi về những gì chiến tranh, sự xung đột, bạo loạn gây ra.

https://vi.m.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%99c_l%E1%BA%ADp

Tiếng Việt

ngôn ngữ của người Việt và ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam

Tiếng Việt (chữ Nôm: tiếngViệt), cũng gọi là tiếng Việt Nam (㗂越南),[5] tiếng Kinh (㗂京) hay Việt ngữ (越語) là ngôn ngữ của người Việt và là ngôn ngữ chính thứctại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam cùng với hơn 4 triệu Việt kiều. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam và là ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Cộng hòa Séc.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, tại Chương I Điều 5 Mục 3, ghi tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam. Hiện chưa có bất kỳ văn bản nào ở cấp nhà nước quy định giọng chuẩnvà quốc tự của tiếng Việt. Phần lớn các văn bản tiếng Việt ở Việt Nam được viết theo “Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt” áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục nêu tại Quyết định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984 do những người thụ hưởng giáo dục đó sau này ra làm việc trong mọi lĩnh vực xã hội hướng tới việc chuẩn hóa chính tả tiếng Việt.

https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Tiếng_Việt